Javascript must be enabled in your browser to use this page.
Please enable Javascript under your Tools menu in your browser.
Once javascript is enabled Click here to go back to Maritime Safety Company II | Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II
TRANG CHỦ Thứ bảy, 11/09/2010, 03:30 GMT+7
TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
TỔ CHỨC
THÔNG BÁO HÀNG HẢI
TIN TỨC
HỆ THỐNG BÁO HIỆU
VĂN BẢN MỚI
SẢN PHẨM DỊCH VỤ
KHẢ NĂNG HỢP TÁC
TIỆN ÍCH KHÁC
LIÊN HỆ
TÀI LIỆU
THỐNG KÊ MSCII
Số lượt đã truy cập Website
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Hiện có 19 người đang trực tuyến..
LIÊN KẾT WEBSITE

Hải đăng Vũng Tàu - Chặng đường 100 năm lịch sử
Những năm tháng thăng trầm
Ngay từ đầu thế kỷ XVI, trên bản đồ hàng hải thế giới đã có tên Vũng Tàu, lúc bấy giờ được gọi là Cinco Chagas Veidareiras (tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là Năm vết thương của Chúa cứu thế), bởi vì nếu nhìn từ xa, Vũng Tàu có năm ngọn núi nhô lên. Trong các tài liệu hàng hải của Pháp thì lại có tên là Cap Saint Jacques, chỉ một mũi đất nhô ra biển (“cap” trong tiếng Pháp nghĩa là mũi).

      Từ xa xưa, cùng với quần đảo Côn Lôn,  Vũng Tàu đã có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng về hàng hải do nằm trên đường hàng hải quốc tế, thường xuyên có tàu thuyền qua lại, nhất là tàu buôn nước ngoài. Các thế kỷ trước, có nhiều tàu buôn bị đắm do không xác định được tọa độ, vị trí. Năm 1858, sau khi nổ súng xâm lược Việt Nam với sự kiện đánh chiếm bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng, năm 1859, thực dân Pháp đã cho tàu chiến đánh chiếm pháo đài Phước Thắng – Vũng Tàu và thành Gia Định. Đến năm 1861, sau khi chiếm được Định Tường (Tây Nam bộ), thực dân Pháp vội vàng đổ quân ra Côn Đảo vì sợ Anh chiếm mất vị trí chiến lược này. Năm 1862, thực dân Pháp đã tiến hành các bước chuẩn bị xây dựng hải đăng tại Vũng Tàu và Côn Đảo.

      Có thể nói, hải đăng Vũng Tàu cùng với hải đăng Bảy Cạnh (Côn Đảo) là những ngọn đèn biển được xây dựng sớm nhất với kỹ thuật cao nhất ở nước ta trong thời cận đại. Nếu như hải đăng Bảy Cạnh có một niên đại rõ ràng vì nó gắn liền với cuộc nổi dậy của tù nhân nhà tù Côn Đảo chống lại chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp, xảy ra vào tháng 8 năm 1883 trong quá trình xây dựng thì niên đại của hải đăng Vũng Tàu chưa được xác định một cách rõ ràng. Một điều chắc chắn rằng, ngọn hải đăng Vũng Tàu mà chúng ta thấy ngày nay tọa lạc trên đỉnh cao nhất của Núi Nhỏ được xây dựng vào năm 1910. Trước đó, có tòa hải đăng cổ (tên tiếng Pháp ghi trong các địa đồ cũ là Ancien Phare) ở mỏm núi thấp hơn về phía Nam trong cùng dãy núi Nhỏ, nơi có tượng Chúa Giêsu ngày nay. Vì vậy, khi nói đến hải đăng Vũng Tàu, nhiều sách hướng dẫn du lịch trong và ngoài nước thường đưa ra những niên đại khác nhau do không đủ các tài liệu lịch sử để chứng minh.

      Tuy nhiên, qua nghiên cứu một số tài liệu lịch sử thì niên đại xây dựng hải đăng Vũng Tàu có thể xác định như sau:

      Tài liệu thứ nhất: Trong bài thơ “Phong cảnh Cần Giờ” của nhà thơ yêu nước Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) nhân chuyến đi từ kinh thành Huế trở lại Gia Định năm 1866 để chờ tàu qua Pháp (chuyến đi kéo dài 3 ngày, từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 9 năm 1866). Khi tới Cần Giờ (thuộc Gia Định), ông có làm bài thơ trên, trong đó có miêu tả Vũng Tàu và ngọn Hải đăng cũ như sau:

Nhân gia lao lạc tạp Tây triền,
Nhất vọng bình lâm trấn hiển yên.
Sơn khởi tam phong hồi hải ngạn,
Đăng cao nhất trụ dẫn dương thuyền.
Quan hà diện định nhưng y cựu,
Cảnh sắc thương mang dĩ bất tiền.
Như thử giang sơn thùy thị chủ?
Yếu tương tình sự vấn chi thiên.

Bản dịch của Lê Thước:
Nhà dân lác đác phía trời Tây,
Rừng thấp bạt ngàn tỏa khói mây.
Núi dựng ba tòa quanh bãi biển,
Đèn cao một ngọn dẫn tàu Tây.
Non sông như cũ hồn sông núi,
Cảnh sắc rõ ràng đã đổi thay.
Đất nước sơn hà ai đấy chủ?
Biết đem tâm sự hỏi trời thôi.

    Qua phân tích về mặt ý nghĩa bài thơ trên, chúng ta có thể khẳng định: Ngọn hải đăng cũ xây dựng trên núi Nhỏ muộn nhất cũng vào năm 1866.
Tài liệu thứ hai: Trong cuốn sách “Cochinchine contemporaine” xuất bản tại Paris năm 1884 của tác giả A.Bouinais, có đoạn viết: “Cap Saint Jacques là tên mũi núi đá chạy dài 250m và tạo nên một bán đảo nhỏ có chiểu dài 20km, chiều rộng 3 – 5km. Trên đỉnh núi phía Nam, ở độ cao 140m nổi lên một hải đăng kiểu xưa nhất, với tia sáng trắng quay quanh. Người ta có thể thấy ở mọi góc độ hải đăng rọi xa tới 28 dặm. Vào ban ngày, hình dáng hải đăng là tòa tháp cao bằng đá trắng (ở 10019’40’’ vĩ Bắc và 107004’43’’ kinh Đông), làm điểm mốc cho tàu bè ngoài khơi. Chiều cao của tháp đèn là 8m. Hải đăng do kỹ sư Maucher xây dựng, được khánh thành vào ngày 15/8/1862”. “… bán đảo Cap Saint Jacques có chừng vài trăm dân cư ngụ, có nhiều bãi lầy nước lợ trong phạm vi diện tích. Sản phẩm làm ra là dừa. Dầu dừa dùng để cung cấp cho hải đăng” (Bản dịch từ tiếng Pháp).

      Tài liệu trên đã nêu một cách cụ thể về thời gian và vị trí xây dựng hải đăng. Như vậy, hải đăng cổ này chính là ngọn hải đăng trên núi Nhỏ do người Pháp xây dựng đầu tiên ở nước ta sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam bộ. Năm 1910,  vì lý do nào đó chưa được xác định, hải đăng được di chuyển lên địa điểm mới, trên đỉnh cao nhất của núi Nhỏ, cao hơn so với nền hải đăng cũ 30m và so với mực nước biển là 170m.

       Hải đăng là một tháp tròn, xây bằng đá hộc, cao 18m, đường kính 3m, sơn màu trắng. Bên trong lòng tháp có cầu thang xoắn ốc, làm bằng thép dày với 55 bậc đi qua ba tầng tháp lên gần tới đỉnh và có lối dẫn ra ban công bên ngoài. Tầng thứ ba là nơi vận hành thấu kính hải đăng. Thoạt đầu, đèn hải đăng được thắp sáng bằng hơi gas, riêng đèn phụ thì đốt bằng dầu dừa hoặc dầu mỏ để đề phòng khi hỏng hóc đột xuất. Tuy nhiên, việc thắp sáng bằng hơi gas kéo dài không lâu vì đến năm 1917, Vũng Tàu khánh thành nhà máy điện. Trong thời gian sử dụng bằng chất đốt (như dầu dừa, dầu mỏ, gas …) thì cơ cấu vận hành của đèn là một hệ thống dẫn động cơ học theo cơ chế vận hành giống như đồng hồ, bộ phận tạo ra lực quay cho đèn là các bánh tạ nặng bằng thép được thả xuống dọc theo một rãnh nằm dọc theo thân tháp đèn (rãnh này hiện nay vẫn còn trên thân tháp). Các bánh tạ được nối với một cơ cấu truyền động gồm các bánh răng để làm quay đèn. Đến năm 1952, thiết bị đèn cơ được thay bằng thiết bị đèn chạy bằng mô tơ điện. Hiện nay, hải đăng Vũng Tàu sử dụng nguồn điện từ lưới điện quốc gia. Thiết bị đèn chính đang sử dụng là loại đèn BBT 300 do hãng Barbier, Benard & Turenne (Cộng hòa Pháp) sản xuất. Tầm hiệu lực ban ngày là 34 hải lý, ban đêm 23 hải lý, tâm sáng 193m, ánh sáng trắng chớp nhóm 2, chu kỳ 12 giây. Đèn có tác dụng chỉ vị trí mũi Ô cấp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là loại đèn nhập bờ giúp cho tàu thuyền hoạt động trong vùng biển ngoài khơi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu định hướng ra vào vịnh Gành Rái.

 
Hải đăng Vũng Tàu ngày nay

      Tháp đèn hải đăng được nối liền với khu nhà ở của những người vận hành đèn (nhà quản đăng) bằng một đường hầm cong kiên cố với dáng vẻ kiến trúc độc đáo không giống với bất cứ một hải đăng nào. Khu nhà quản đăng là một kiến trúc kiểu Pháp, hai tầng đồ sộ với 24 phòng, xây dựng cùng thời. Dưới nền nhà, người ta xây dựng một hầm chứa nước mưa khoảng 100m3 đủ để những người canh hải đăng dùng trong cả năm.
Dưới chân tháp đèn không xa có bốn khẩu thần công dài trên 10m, nặng hàng chục tấn do người Pháp xây dựng tại núi Nhỏ từ năm 1895, nhằm khống chế một vùng rộng lớn từ Long Hải đến Cần Giờ và kiểm soát một phần đường biển của vùng Đông Nam bộ.Trong thời kỳ chống Pháp (1946 – 1954), do hải đăng Vũng Tàu có một tầm rất quan trọng đối với quân Pháp trong việc vận chuyển quân và khí tài quân sự nên đã bị Đội biệt động thành phố Vũng Tàu hai lần tổ chức tấn công, phá hỏng đèn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, “Đoàn tàu không số” phải dựa vào luồng sáng hải đăng Vũng Tàu để cập bến Lộc An an toàn, kịp thời đưa vũ khí, đạn dược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam, góp phần tạo nên chiến thắng Bình Giã vang dội, làm sụp đổ hoàn toàn “Chiến lược chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và tay sai trên chiến trường miền Nam.

Hải đăng Vũng Tàu – Thắp sáng một niềm tin
     Hiện nay, hải đăng Vũng Tàu do Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II trực tiếp quản lý. Đây là khu vực đầu mối của các tuyến luồng hàng hải rất quan trọng như luồng Sài Gòn – Vũng Tàu (dẫn vào cụm cảng thành phố Hồ Chí Minh), luồng Thị Vải (cụm cảng Cái Mép – Thị Vải và khu công nghiệp Phú Mỹ thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, khu công nghiệp Gò Dầu tỉnh Đồng Nai), luồng sông Dinh, luồng sông Dừa và luồng Soài Rạp – Hiệp Phước).

      Ngoài tầm quan trọng trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng hàng hải thì hải đăng Vũng Tàu còn biết đến như là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, một chứng nhân quan trọng trong một giai đoạn bi thương và hào hùng của dân tộc, giai đoạn thuộc địa và đấu tranh giải phóng ách đô hộ, giải phóng dân tộc. Tại nơi đây, trên mỗi hàng cây, phiến đá vẫn còn lồ lộ dấu vết của quá khứ còn chưa xa: Hệ thống bánh răng truyền động của thiết bị đèn, những rặng cây hoa sứ già, những vết đạn, những công sự, lô cốt, hầm ngầm... Hằng đêm, hải đăng Vũng Tàu vẫn miệt mài thắp sáng trên đỉnh núi Nhỏ và nghiễm nhiên trở thành một hình tượng rất đỗi quen thuộc đối với mỗi người dân thành phố biển Vũng Tàu.

     Nhằm phát huy tầm quan trọng và những ý nghĩa lịch sử của hải đăng Vũng Tàu, trong những năm qua, mặc dù công việc gặp nhiều khó khăn, vất vả, bộn bề do Công ty mới được thành lập (tháng 7/2005) nhưng Ban lãnh đạo Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II vẫn luôn trăn trở với mong muốn được đầu tư để phát huy tác dụng giá trị lịch sử của hải đăng Vũng Tàu một các hữu hiệu nhất. Đã bao lần, lãnh đạo Công ty cùng các cán bộ kỹ thuật leo khắp núi Nhỏ để khảo sát địa hình, địa vật và nhiều lần làm việc với lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, các Sở, ngành liên quan để đề đạt nguyện vọng tôn tạo và mở rộng hải đăng Vũng Tàu.

     Sau một thời gian xem xét, cân nhắc các mặt của Dự án về quy hoạch sử dụng đất, tính khả thi, vấn đề môi trường, cảnh quan …, đến tháng 7/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có văn bản chính thức đồng ý về mặt chủ trương cho phép Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II lập Dự án cải tạo, nâng cấp và mở rộng hải đăng tại núi Nhỏ. Tháng 10/2009, Sở Xây dựng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có văn bản chấp thuận địa điểm cho Công ty lập Dự án đầu tư với phần diện tích cho phép mở rộng ra ngoài khuân viên hải đăng khoảng 3ha.

      Việc tu bổ và tôn tạo hải đăng Vũng Tàu hiện nay là việc làm hết sức cần thiết, nhằm giữ gìn một công trình mang tính lịch sử, văn hóa tiêu biểu. Đồng thời, khi hoàn thiện sẽ kết hợp với các hạng mục di tích lịch sử khác như: lô cốt, hầm ngầm, công sự hỏa lực … sẽ tạo ra một địa điểm tham quan du lịch hấp dẫn, thu hút khách tham quan, góp phần vào sự phát triển ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

     Theo phương án thiết kế được lãnh đạo Công ty thông qua thì ngoài việc bảo tồn,  tôn tạo các hạng mục chính của hải đăng đã bị xuống cấp sau hàng trăm năm sử dụng thì tại nơi đây sẽ xây dựng thêm một số các hạng mục khác như: Trung tâm thông tin hàng hải (phục vụ cho công tác chuyên ngành bảo đảm an toàn hàng hải), bảo tàng hàng hải, câu lạc bộ thuyền trưởng, thuyền viên, khách sạn nghỉ dưỡng và các khu dịch vụ du lịch phục vụ khách tham quan …

      Một thực tế cho thấy, mặc dù ngành hàng hải có lịch sử phát triển rất lâu đời nhưng trên cả nước ta hiện nay vẫn chưa có bảo tàng chuyên ngành về hàng hải. Trên thế giới, ngay từ 2000 năm trước công nguyên, khu vực Địa Trung Hải – nơi tập trung nhiều nền văn minh cổ đại đã nhộn nhịp tàu thuyền bởi các dân tộc thiện thủy như: Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, người Phenecien, người Crete … Từ năm 285 đến 247 trước công nguyên, ngọn hải đăng vĩ đại nhất thế giới – hải đăng Alexandria đã được Ptolemy và người Ai Cập xây dựng trên đảo Pharos, thành phố Alexandria.

 
Phối cảnh tổng thể Dự án cải tạo, nâng cấp và mở rộng hải đăng Vũng Tàu

      Đối với Việt Nam, một nước có bờ biển dài thì kỹ thuật đi biển cũng đã có từ khá sớm. Ngay từ thời Ngô Quyền (năm 398 sau công nguyên), đã thực hiện trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, đánh tan quân Nam Hán. Sau đó, trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam, các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn … cũng sử dụng các phương tiện tàu thuyền đi biển để vận chuyển quân, vũ khí, lương thực vào khai phá phương Nam. Trong thời nhà Nguyễn, triều đình cũng lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải khai thác sản vật, xây dựng đền, đặt bia đá, cắm cờ thiết lập chủ quyền tại các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Ngay cả lịch sử hình thành Vũng Tàu cũng liên quan đến sự kiện ba con thuyển ghé vào bán đảo thành lập nên ba làng (Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam), mở đầu cho việc xây dựng và phát triển thành phố Vũng Tàu ngày nay.

     Vì vậy, với lịch sử phát triển lâu dài và tầm quan trọng của ngành hàng hải, việc xây dựng một bảo tàng hàng hải gắn với một hải đăng cổ sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân, giúp cho người dân và các nhà nghiên cứu hiểu biết thêm về quá trình hình thành và phát triển ngành hàng hải Việt Nam qua các thời kỳ bở vì nó luôn được gắn liền với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước ngày nay.

      Hơn một trăm năm qua, hải đăng Vũng Tàu vẫn luôn là người bạn tin cậy và trung thành của những người đi biển. Ánh sáng nhấp nháy của ngọn hải đăng không những đưa đường, dẫn lối mà còn như thắp lên niềm hy vọng, làm bùng cháy những khát khao sống mạnh mẽ của con người và giúp cho những con tàu  cập bến đỗ bình an.


                              Phạm Đình Vận
TGĐ Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải II