|
Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có bờ biển dài so với diện tích của toàn lãnh thổ, cộng thêm hàng ngàn sông rạch chằng chịt phần lớn thông ra biển Đông và dòng chảy tương đối điều hòa làm cho sự giao thông đường thủy rất thuận lợi, cho nên sự phát triển về ngành hàng hải là một mục tiêu số một của Việt Nam và là ngành mũi nhọn trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước .
Trong khi trên sông, rạch và trên biển , hàng ngày hàng giờ có hàng vạn phương tiện thủy lưu thông ngược xưôi, sư an toàn của các phương tiện đó và các công trình thủy cần phải đặt ra, do đó ngành bảo đảm an toàn hàng hải ra đời.
Thực ra ngành bảo đảm an toàn hàng hải của Việt Nam cũng đã cùng với các quốc gia trên thế giới đã song hành phát triển. Tùy theo thời kỳ và thực tế tình hình đất nước. Ngành bảo đảm an toàn hàng hải của VN đã tổ chức và hình thành các mô hình cho ngành mình và cũng đã hoạt động rất hiệu quả và đóng góp lớn cho ngành kinh tế quốc dân.
Nửa thế kỷ trước (1954)sau khi Hiệp định Geneve ký kết miền bắc được giải phóng, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tiếp quản cơ sở hạ tầng từ tay người Pháp, thành lập Ty Hoa Tiêu và Hải Đăng quản lý các hải đăng và luồng tàu biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình.
Riêng tại miền nam, chính quyền của chế độ cũ chỉ cơ cấu có một Ty Hải Đăng và Hải Hiệu (Service des Phares et des Balises), cũng được tổ chức theo mô hình của Pháp, để quản lý toàn bộ các hải đăng ven biển và một số ít phao tiêu trên các luồng hàng hải chính suốt từ Quảng Bình đến Hà Tiên. Tuy địa bàn rộng nhưng nhiệm vụ của họ chỉ thu hẹp ở các hải đăng và một số ít phao, tiêu, còn các công tác khác cần đến phương tiện và kỹ thuật cao như nạo vét luồng lạch, bảo vệ môi trường biển, khảo sát luồng lạch, nghiên cứu và lập hải đồ các luồng hàng hải, tìm kiếm và cứu hộ trên biển thì không Ty không có chức năng.
Khi đất nước thống nhất, chúng ta có 2 Công Ty Bảo Đảm An Toàn Hàng Hải: Công Ty 1 ở phía bắc và Công Ty 2 ở phía nam. Mỗi Cơng ty được phân công quản lý và điều hành các xí nghiệp thành viên của mình và hoạt động rất thành công trong gần hai mươi năm . Trong thời kỳ này Công Ty 2 ở phía nam đã gia nhập Hội Báo Hiệu Hàng Hải Quốc Tế (IALA) và trở thành thành viên quốc gia của Hội từ năm 1988. Từ đó hệ thống báo hiệu hàng hải của Việt Nam đã sửa đổi theo đúng qui định của báo hiệu hàng hải quốc tế Vùng A
Năm 1995, hai Công Ty 1 và Công Ty 2 được hợp nhất thành Bảo Đảm An Toàn Hàng Haiũ Việt Nam, cơ quan này đã quản lý 12 đơn vị thành viên từ địa đầu tỉnh Quảng Ninh cho đến Hà Tiên. Bảo Đảm An Toàn Hàng Haiũ Việt Nam và các đơn vị thành viên có trụ sở đóng dọc theo chiều dài đất nước, đặc biệt là Bảo Đảm An Toàn Hàng Haiũ Khu Vực IV là đơn vị thành viên được phân công có khối lượng công việc lớn nhất, quản lý khu vực có lượng giao thông sầm uất nhất kể cả trên biển và trên sông, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không để xảy ra một sự cố nào do lỗi của bảo đảm hàng hải.
Nhưng sau mười năm hoạt động theo mô hình tổ chức khép kín trên , chỉ phù hợp cho thời chiến hay thời bao cấp, mô hình này không còn phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế và canh tranh nữa, nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Thực hiện chủ trương của Chính Phủ về việc sắp xếp, đổi mới , khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp Nhà nước trên toàn quốc và các Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải. Cục Hàng Hải Việt Nam có tờ trình phương án sắp xếp lại Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trực thuộc Cục trình Bộ Giao Thông Vận Tải và đã được Bộ chấp thuận bằng quyết định số 2269/QĐ-BGTVT ngày 4 tháng 7 năm 2005 về việc chia Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích Bảo Đảm An Toàn Hàng Hải Việt Nam thành hai công ty : Công Ty Bảo Đảm An Toàn Hàng Hải I ở phía bắc và Công Ty Bảo Đảm An Toàn Hàng Hải II ở phía nam trực thuộc Cục Hàng Hải Việt Nam .
Hai Công Ty đều có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản theo qui định, thực hiện nhiệm vụ công ích và hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp năm 2003.
|